1. Tổng quan

Danh dự, nhân phẩm và uy tín là những giá trị tinh thần không thể định lượng bằng tài sản nhưng lại có vai trò quan trọng đối với cá nhân trong đời sống xã hội. Pháp luật dân sự Việt Nam ghi nhận đây là những quyền nhân thân không thể chuyển giao, không thể bị tước bỏ. Khi những giá trị này bị xâm phạm, người bị thiệt hại có quyền yêu cầu người gây thiệt hại bồi thường theo quy định pháp luật. Điều 592 Bộ luật Dân sự 2015 quy định cụ thể về thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, được hướng dẫn chi tiết bởi Điều 9 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

  1. Khái niệm

Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm là những tổn thất mà cá nhân hoặc pháp nhân phải gánh chịu khi bị người khác có hành vi làm ảnh hưởng tiêu cực đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình. Xâm phạm có thể thể hiện bằng lời nói, hành động, văn bản, hình ảnh, thông tin sai sự thật, bịa đặt, vu khống, xúc phạm trên mạng xã hội, báo chí, nơi công cộng,…

Khác với thiệt hại về tính mạng hay sức khỏe, thiệt hại trong trường hợp này thường mang tính chất tinh thần, ảnh hưởng đến vị thế xã hội và các mối quan hệ của người bị hại. Pháp luật dân sự cho phép yêu cầu bồi thường không chỉ về vật chất, mà còn có khoản tiền để bù đắp tổn thất tinh thần.

  1. Nội dung pháp lý

Theo Điều 592 Bộ luật Dân sự 2015 và hướng dẫn tại Điều 6 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP, các khoản bồi thường được chia thành hai nhóm chính:

Thứ nhất, thiệt hại vật chất bao gồm:

a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại: Bao gồm chi phí thuê luật sư, công bố cải chính thông tin, yêu cầu gỡ bỏ nội dung sai sự thật, tổ chức xin lỗi công khai, chi phí điều trị tâm lý,… Những khoản này phải hợp lý, có liên quan trực tiếp đến hành vi xâm phạm và hoàn cảnh của người bị thiệt hại.

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút: Nếu người bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín mất cơ hội nghề nghiệp, bị sa thải, hoãn hợp đồng, ảnh hưởng đến việc kinh doanh,… thì được yêu cầu bồi thường theo mức thu nhập bị mất, hoặc mức thu nhập trung bình của người lao động cùng loại nếu không chứng minh được cụ thể.

c) Thiệt hại khác do luật quy định: Bao gồm các tổn thất phát sinh khác mà pháp luật chuyên ngành có thể ghi nhận, ví dụ thiệt hại về danh tiếng đối với nghệ sĩ, chính trị gia, doanh nhân,…

Thứ hai, bồi thường tổn thất tinh thần được quy định tại khoản 2 Điều 592. Theo đó, người xâm phạm phải bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần mà người bị thiệt hại phải chịu. Mức bồi thường này do các bên tự thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì Tòa án căn cứ để quyết định, nhưng không vượt quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định tại thời điểm xét xử. Theo quy định hiện hành, mức lương cơ sở là 1.800.000 đồng, nên mức tối đa là 18.000.000 đồng cho một trường hợp.

Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP hướng dẫn: khi xác định mức bồi thường tổn thất tinh thần, Tòa án cần xem xét tính chất, mức độ của hành vi xâm phạm; phạm vi lan truyền thông tin sai sự thật; mức độ ảnh hưởng xã hội; mức độ ăn năn hối lỗi của người vi phạm; hoàn cảnh, nhân thân của các bên.

  1. Ví dụ minh họa

Ví dụ 1: A đăng bài trên mạng xã hội với nội dung sai sự thật, xúc phạm danh dự B, khiến B bị công ty đình chỉ công tác, ảnh hưởng đến uy tín trong giới chuyên môn. B yêu cầu A bồi thường: chi phí thuê luật sư để yêu cầu cải chính, khoản tiền thu nhập bị mất trong thời gian bị đình chỉ, và một khoản tổn thất tinh thần theo Điều 592.

Ví dụ 2: C vu khống D ngoại tình và thông tin này lan truyền trong khu phố, ảnh hưởng đến danh dự và quan hệ hôn nhân của D. D yêu cầu xin lỗi công khai, chi phí tổ chức cuộc gặp giải thích với cơ quan và người thân, đồng thời bồi thường khoản tổn thất tinh thần do đau khổ và áp lực tâm lý kéo dài.

  1. Ý nghĩa thực tiễn

Quy định tại Điều 592 có ý nghĩa rất lớn trong việc bảo vệ nhân phẩm, danh dự, uy tín – vốn là những giá trị vô hình nhưng gắn bó mật thiết với nhân thân của cá nhân. Trong bối cảnh mạng xã hội phát triển, các hành vi như tung tin sai sự thật, bịa đặt, bôi nhọ, xúc phạm danh dự xảy ra phổ biến và có hậu quả nghiêm trọng, thì quy định này là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ người bị hại.

Mặt khác, quy định còn góp phần răn đe, phòng ngừa các hành vi vi phạm đạo đức và thuần phong mỹ tục, khuyến khích ứng xử có văn hóa, đúng mực trong xã hội.

  1. Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Có phải mọi hành vi xúc phạm đều phải bồi thường theo Điều 592 không?
– Không. Chỉ những hành vi gây thiệt hại thực tế hoặc gây tổn thất tinh thần nghiêm trọng và có yêu cầu bồi thường mới bị xử lý theo quy định này. Ngoài ra, cần có mối quan hệ nhân quả rõ ràng giữa hành vi và thiệt hại.

Câu hỏi 2: Có cần chứng minh thu nhập bị mất do bị xúc phạm không?
– Có. Người yêu cầu bồi thường phải cung cấp chứng cứ về công việc, thu nhập thực tế và mối liên hệ giữa hành vi xâm phạm và việc bị mất thu nhập. Nếu không xác định được, có thể áp dụng mức thu nhập trung bình của người cùng nghề, cùng trình độ tại địa phương.

Câu hỏi 3: Bị xúc phạm trong nhóm chat riêng có được yêu cầu bồi thường không?
– Có thể có, nếu thông tin lan truyền ra ngoài, ảnh hưởng đến danh dự, uy tín trong cộng đồng hoặc môi trường sống, làm việc. Tòa án sẽ xem xét mức độ xâm phạm và hậu quả thực tế để quyết định.

Câu hỏi 4: Nếu người xâm phạm công khai xin lỗi thì có được miễn bồi thường không?
– Không. Việc xin lỗi là nghĩa vụ độc lập với bồi thường. Người bị thiệt hại vẫn có quyền yêu cầu bồi thường vật chất và tinh thần nếu có căn cứ.

  1. Kết luận

Điều 592 Bộ luật Dân sự năm 2015 và hướng dẫn tại Điều 9 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP là cơ sở pháp lý quan trọng bảo vệ các quyền nhân thân không thể chuyển nhượng của cá nhân và tổ chức. Việc quy định chi tiết các khoản thiệt hại và nguyên tắc bồi thường giúp người bị xâm phạm có căn cứ yêu cầu khôi phục danh dự, đồng thời góp phần xây dựng xã hội văn minh, tôn trọng lẫn nhau và sử dụng ngôn ngữ, hành vi một cách có trách nhiệm.

CÁC DỊCH VỤ KHÁC