- Tổng quan
Trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp thường phát sinh nhiều loại giao dịch như biếu, tặng hàng hóa cho đối tác hoặc nhân viên; xuất hàng để tiêu dùng nội bộ; cung cấp sản phẩm trong chương trình khuyến mại hoặc đổi hàng theo các thỏa thuận thương mại. Mặc dù không trực tiếp phát sinh doanh thu hay thu tiền, nhưng về bản chất, các giao dịch này vẫn làm phát sinh giá trị tăng thêm trong nền kinh tế. Do đó, pháp luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) đã thiết lập các quy định rõ ràng về giá tính thuế đối với các trường hợp này nhằm đảm bảo công bằng và hiệu quả trong quản lý thuế. Quy định pháp lý chủ yếu được thể hiện tại Điều 7 Luật Thuế GTGT 2024, được cụ thể hóa qua Nghị định 181/2025/NĐ-CP. Bài viết này sẽ phân tích cụ thể nội dung này nhằm giúp doanh nghiệp áp dụng đúng, đủ và tránh rủi ro pháp lý.

- Giá tính thuế GTGT đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ, biếu tặng, cho và hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại
2.1. Nguyên tắc xác định
Theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Luật Thuế GTGT:
“Giá tính thuế đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng, cho là giá của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh hoạt động”.
Như vậy, dù giao dịch không có thanh toán bằng tiền thì vẫn phải xác định giá tính thuế dựa trên giá trị thị trường tại thời điểm phát sinh sự kiện chịu thuế. Đây là cơ sở để doanh nghiệp kê khai thuế GTGT đầu ra, đảm bảo nghĩa vụ tài chính với Nhà nước.
2.2. Định nghĩa và phạm vi áp dụng
– Hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng nội bộ: Là hàng hóa hoặc dịch vụ mà doanh nghiệp tự xuất để sử dụng trong nội bộ, không nhằm mục đích tiêu thụ bên ngoài. Tuy nhiên, không phải mọi hoạt động nội bộ đều phải tính thuế GTGT.
– Hàng hóa biếu, tặng, cho: Là hành vi chuyển giao hàng hóa không kèm theo điều kiện về thanh toán, thường xuất hiện trong các mối quan hệ hợp tác thương mại, phúc lợi cho người lao động hoặc hoạt động xã hội.
– Hàng hóa dùng để trao đổi: Là trường hợp hai bên giao hàng hóa hoặc dịch vụ với nhau theo thỏa thuận đổi ngang giá trị hoặc có điều chỉnh, nhưng không phát sinh thanh toán bằng tiền.
- Các trường hợp không phải tính thuế GTGT dù có xuất hàng/dịch vụ nội bộ
Pháp luật thuế GTGT quy định rõ: chỉ những hoạt động nội bộ không phục vụ tiếp tục sản xuất, kinh doanh mới phải kê khai và tính thuế GTGT đầu ra. Ngược lại, nếu việc xuất hàng nội bộ phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh thì không phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT. Các trường hợp cụ thể bao gồm:
(i) Chuyển kho nội bộ, xuất vật tư, bán thành phẩm
Ví dụ: Nhà máy A xuất nguyên vật liệu từ kho trung tâm đến phân xưởng sản xuất. Đây là hoạt động nội bộ phục vụ tiếp tục sản xuất, nên không tính thuế GTGT.
(ii) Hàng hóa, dịch vụ sử dụng phục vụ trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh
Bao gồm cả tài sản cố định do doanh nghiệp tự xây dựng hoặc sản xuất, nếu phục vụ nội bộ thì không phải kê khai thuế.
(iii) Điều chuyển tài sản nội bộ trong doanh nghiệp
Tài sản điều chuyển giữa các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc trong cơ sở kinh doanh; tài sản điều chuyển khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; tài sản cố định đang sử dụng, đã thực hiện trích khấu hao khi điều chuyển theo giá trị ghi trên sổ sách kế toán giữa cơ sở kinh doanh và các đơn vị thành viên do một cơ sở kinh doanh sở hữu 100% vốn hoặc giữa các đơn vị thành viên do một cơ sở kinh doanh sở hữu 100% vốn để phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng; tài sản góp vốn vào doanh nghiệp. Cơ sở kinh doanh có tài sản điều chuyển phải có lệnh điều chuyển tài sản, kèm theo bộ hồ sơ nguồn gốc tài sản. Tài sản góp vốn vào doanh nghiệp phải có: biên bản góp vốn sản xuất kinh doanh, hợp đồng liên doanh, liên kết; biên bản định giá tài sản của Hội đồng giao nhận vốn góp của các bên góp vốn (hoặc văn bản định giá của tổ chức có chức năng định giá theo quy định của pháp luật), kèm theo bộ hồ sơ về nguồn gốc tài sản. Điều này thể hiện rõ tính hợp lý của pháp luật thuế GTGT không đánh thuế đối với giá trị chưa được tiêu dùng hoặc chưa tạo ra giao dịch thương mại thực tế với bên ngoài.
- Trường hợp phải tính thuế GTGT đầu ra
Ngược lại, nếu hàng hóa, dịch vụ không được sử dụng để tiếp tục sản xuất kinh doanh, mà lại: (i) Dùng cho mục đích phúc lợi; (ii) Dùng để biếu, tặng, trao đổi, cho; (iii) Dùng cho mục đích cá nhân của người quản lý hoặc nhân viên;
Thì khi đó, doanh nghiệp phải xuất hóa đơn, kê khai thuế GTGT đầu ra theo giá trị thị trường tại thời điểm phát sinh.
Ví dụ:
- Tặng sản phẩm cho đối tác trong chương trình tri ân khách hàng;
- Cho nhân viên sử dụng xe công ty vào mục đích cá nhân;
- Đổi hàng hóa lấy dịch vụ quảng cáo.
- Giá tính thuế đối với hàng hóa, dịch vụ khuyến mại
5.1. Nguyên tắc chung
Theo khoản 2 Điều 7, hàng hóa và dịch vụ khuyến mại được quy định:
“Đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại theo quy định của pháp luật về thương mại, giá tính thuế được xác định bằng không (0)”. Đây là chính sách khuyến khích doanh nghiệp thực hiện hoạt động khuyến mại minh bạch, hợp pháp.
Điều kiện: Chương trình khuyến mại phải đăng ký hoặc thông báo với cơ quan có thẩm quyền, tùy theo hình thức khuyến mại. Nếu không thực hiện đúng quy trình, chương trình khuyến mại sẽ bị xem là biếu tặng, phải tính thuế GTGT như giao dịch bình thường.
5.2. Các hình thức khuyến mại có giá tính thuế bằng 0
a) Đưa hàng mẫu, cung cấp dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền thì hàng mẫu, dịch vụ mẫu có giá tính thuế bằng không (0).
b) Tặng hàng hóa, cung cấp dịch vụ không thu tiền thì hàng hóa, dịch vụ tặng có giá tính thuế bằng không (0).
c) Bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng hóa, phiếu sử dụng dịch vụ thì giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ không bao gồm giá trị phiếu mua hàng hóa, phiếu sử dụng dịch vụ.
d) Bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ có kèm theo phiếu dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố (hoặc các hình thức tổ chức thi và trao thưởng khác tương đương) thì giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ không bao gồm giá trị của hàng hóa, dịch vụ trúng thưởng theo phiếu dự thi (nếu có).
đ) Bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi mà việc tham gia chương trình gắn liền với việc mua hàng hóa, dịch vụ và việc trúng thưởng dựa trên sự may mắn của người tham gia theo thể lệ và giải thưởng đã công bố thì giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ không bao gồm giá trị của hàng hóa, dịch vụ dùng để trao thưởng.
e) Tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên, theo đó việc tặng thưởng cho khách hàng căn cứ trên số lượng hoặc trị giá mua hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng thực hiện được thể hiện dưới hình thức thẻ khách hàng, phiếu ghi nhận sự mua hàng hóa, dịch vụ hoặc các hình thức khác thì giá tính thuế không bao gồm giá trị của thẻ khách hàng, phiếu ghi nhận sự mua hàng hóa, dịch vụ hoặc các hình thức khác.
6. Câu hỏi thường gặp
6.1. Có phải xuất hóa đơn khi biếu tặng hàng hóa không?
Có. Nếu hàng hóa tặng không thuộc chương trình khuyến mại theo quy định pháp luật về thương mại thì phải xuất hóa đơn, kê khai thuế GTGT đầu ra theo giá thị trường.
6.2. Nếu không thu tiền, có nghĩa là không có giao dịch chịu thuế?
Không. Thuế GTGT đánh vào giá trị tăng thêm, không phụ thuộc có thu tiền hay không. Do đó, hoạt động biếu, tặng, trao đổi, tiêu dùng nội bộ không phục vụ sản xuất kinh doanh vẫn phải chịu thuế nếu phát sinh giá trị tiêu dùng.
6.3. Xuất hàng nội bộ giữa các kho có phải tính thuế không?
Không. Nếu cùng cơ sở kinh doanh, phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh thì không phải kê khai thuế GTGT.
- Lưu ý khi thực hiện kê khai và hạch toán
– Đảm bảo có chứng từ đầy đủ (hóa đơn, biên bản điều chuyển, hợp đồng khuyến mại, phiếu xuất kho…).
– Đăng ký/Thông báo chương trình khuyến mại đầy đủ để được miễn thuế GTGT.
– Hạch toán đúng tài khoản kế toán khi xuất hàng tiêu dùng nội bộ, biếu tặng, khuyến mại.
– Định kỳ soát xét lại các khoản chi khuyến mại, chi phúc lợi, tặng phẩm để đảm bảo không bị bỏ sót nghĩa vụ thuế.

- Kết luận
Việc xác định giá tính thuế GTGT đối với các trường hợp trao đổi, tiêu dùng nội bộ, biếu tặng, khuyến mại là vấn đề thường xuyên và có tính phức tạp cao trong thực tiễn kế toán thuế doanh nghiệp. Không chỉ yêu cầu hiểu đúng pháp luật, mà còn cần vận dụng linh hoạt trong từng tình huống cụ thể để kê khai thuế chính xác, tránh bị truy thu và xử phạt. Đồng thời, đây cũng là căn cứ để doanh nghiệp minh bạch hóa các chi phí kinh doanh, đảm bảo tính hợp lý trong quản trị tài chính. Việc thực hiện đúng sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao uy tín, tối ưu chi phí và tăng cường hiệu quả hoạt động, đồng thời thể hiện sự tuân thủ pháp luật một cách văn minh và chuyên nghiệp trong bối cảnh kinh tế hội nhập và số hóa quản lý thuế.
