1. Tổng quan

Tội giết người là một trong những tội danh có mức độ nghiêm trọng nhất trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam. Hành vi này trực tiếp xâm phạm quyền sống – quyền nhân thân cơ bản nhất của con người, được pháp luật trong nước và quốc tế bảo vệ tuyệt đối. Vì vậy, Nhà nước Việt Nam có chính sách hình sự nghiêm khắc đối với tội phạm này, đồng thời chú trọng bảo đảm nguyên tắc nhân đạo và công bằng trong xử lý hình sự.

Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định chi tiết về tội giết người, phân hóa hình phạt theo từng nhóm hành vi cụ thể, từ đó làm cơ sở cho việc định tội và quyết định hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.

2. Khái niệm và cấu thành tội phạm

2.1. Khái niệm

Tội giết người là hành vi của người có năng lực trách nhiệm hình sự, cố ý tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác. Tính chất “cố ý” là dấu hiệu bắt buộc, phân biệt tội giết người với các hành vi làm chết người do lỗi vô ý.

2.2. Các yếu tố cấu thành tội phạm

a) Khách thể

Khách thể bị xâm phạm là quyền sống – một quyền nhân thân tối thượng được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên.

b) Mặt khách quan

Dấu hiệu khách quan là hành vi tước đoạt tính mạng người khác một cách trái pháp luật, thể hiện bằng các phương thức như đánh, đâm, bắn, đầu độc, thiêu sống, dùng vũ khí, công cụ hoặc thủ đoạn khác. Trong một số trường hợp, chỉ cần người phạm tội có hành vi chuẩn bị giết người thì đã có thể bị xử lý hình sự theo khoản 3 Điều 123.

Hậu quả là người bị hại chết, tuy nhiên, pháp luật vẫn xử lý ở giai đoạn chuẩn bị nếu hành vi có tính chất đặc biệt nguy hiểm.

c) Chủ thể

Chủ thể của tội giết người là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ 14 tuổi trở lên (vì đây là tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại khoản 1 Điều 123 BLHS). Trường hợp người dưới 18 tuổi phạm tội sẽ được xem xét theo chính sách xử lý hình sự đối với người chưa thành niên.

d) Mặt chủ quan

Tội giết người chỉ được thực hiện với lỗi cố ý – có thể là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình có thể làm chết người khác, mong muốn hoặc bỏ mặc hậu quả xảy ra.

3. Nội dung pháp lý của Điều 123 Bộ luật Hình sự

Điều 123 BLHS năm 2015 quy định tội giết người gồm ba khung hình phạt chính và một chế tài bổ sung:

3.1. Khung hình phạt chính

Khoản 1: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình đối với các trường hợp giết người có tính chất đặc biệt nghiêm trọng như:

  • Giết từ 02 người trở lên;
  • Giết trẻ em dưới 16 tuổi;
  • Giết phụ nữ có thai mà biết rõ tình trạng;
  • Giết người thi hành công vụ;
  • Giết người thân thích như cha, mẹ, ông bà, người nuôi dưỡng, thầy cô;
  • Giết người để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;
  • Giết người để lấy nội tạng;
  • Hành vi man rợ, có tổ chức, có tính chất côn đồ, tái phạm nguy hiểm, thuê giết người hoặc giết người thuê…

Khoản 2: Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm đối với các hành vi giết người không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1.

Khoản 3: Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm đối với người chuẩn bị phạm tội giết người – phản ánh tính chủ động trong việc ngăn chặn hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

3.2. Hình phạt bổ sung

Theo khoản 4, người phạm tội còn có thể bị:

  • Cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm;
  • Quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 đến 05 năm.

4. Ví dụ minh họa

Ví dụ 1: Nguyễn Văn A mâu thuẫn với hàng xóm là anh B. Trong lúc tức giận, A mang dao sang nhà B và đâm nhiều nhát khiến B tử vong tại chỗ. Hành vi của A cấu thành tội giết người theo khoản 2 Điều 123 vì không thuộc các trường hợp định khung tăng nặng.

Ví dụ 2: Trần Văn C biết chị D đang mang thai nhưng vẫn cố ý tấn công, dẫn đến việc chị D và thai nhi tử vong. Trường hợp này C bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1, điểm c Điều 123 – giết phụ nữ mà biết là có thai, mức hình phạt có thể lên đến tử hình.

Ví dụ 3: Nhóm X, Y, Z cùng nhau lên kế hoạch, phân công nhiệm vụ để giết ông T nhằm cướp tài sản. Cả ba bàn bạc, chuẩn bị hung khí và thực hiện hành vi một cách có tổ chức. Trường hợp này thuộc khoản 1, điểm o (có tổ chức) và điểm g (để thực hiện tội phạm khác) của Điều 123.

Ví dụ 4: Lê Văn H vì bực tức với bạn cùng lớp nên đăng tin rao trên mạng xã hội để tìm người “dằn mặt” bạn. H thuê người khác đánh và hậu quả dẫn đến chết người. Trường hợp này H có thể bị truy cứu theo khoản 1, điểm m – thuê giết người, dù không trực tiếp thực hiện hành vi.

5. Ý nghĩa thực tiễn

Điều 123 giữ vai trò trung tâm trong nhóm các tội xâm phạm tính mạng con người, thể hiện quan điểm nhất quán của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền sốngrăn đe, phòng ngừa tội phạm nghiêm trọng.

Việc phân hóa hình phạt rõ ràng theo từng hành vi và tình tiết cụ thể thể hiện sự công bằng trong áp dụng pháp luật hình sự, đảm bảo nguyên tắc xử lý đúng người, đúng tội, đúng mức độ. Những người bị truy tố về tội giết người thường đối mặt với hình phạt cao, bao gồm tù chung thân và tử hình, đồng thời có thể bị áp dụng các hình phạt bổ sung để hạn chế nguy cơ tái phạm và bảo vệ trật tự xã hội.

Trong thực tiễn, các luật sư cần đặc biệt lưu ý đến mặt chủ quan của tội phạm, mục đích, động cơ, và tình tiết định khung tăng nặng hoặc giảm nhẹ, để đảm bảo việc bào chữa hoặc buộc tội khách quan, đúng quy định pháp luật.

6. Câu hỏi thường gặp

6.1. Nếu chưa giết được người thì có bị xử lý hình sự không?

Có. Theo khoản 3 Điều 123, người chuẩn bị phạm tội giết người vẫn bị xử lý hình sự và có thể bị phạt tù từ 01 đến 05 năm. Đây là điểm đặc biệt vì thông thường hành vi chuẩn bị phạm tội không bị truy cứu.

6.2. Giết người trong trường hợp phòng vệ có bị truy cứu không?

Nếu thuộc phòng vệ chính đáng, người đó không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, nếu vượt quá giới hạn cần thiết để phòng vệ, thì có thể bị truy cứu theo Điều 126 BLHS về tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.

6.3. Có được giảm nhẹ khi phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh không?

Trong một số trường hợp, người phạm tội có thể được xét xử theo Điều 125 BLHS – tội giết người trong trạng thái bị kích động mạnh, có khung hình phạt nhẹ hơn rất nhiều (từ 06 tháng đến 03 năm tù giam).

6. 4. Người dưới 18 tuổi giết người có bị tử hình không?

Không. Theo Điều 91 và Điều 101 BLHS, người dưới 18 tuổi khi phạm tội sẽ không bị áp dụng hình phạt tử hình hoặc tù chung thân. Thay vào đó, Tòa án sẽ áp dụng các mức án tù có thời hạn và có thể được hưởng chính sách khoan hồng.

6.5. Giết người do vô ý có bị truy cứu theo Điều 123 không?

Không. Tội giết người quy định tại Điều 123 chỉ áp dụng với lỗi cố ý. Nếu vô ý làm chết người, sẽ bị xử lý theo Điều 128 BLHS (tội vô ý làm chết người) hoặc Điều 129 (vô ý làm chết nhiều người).

6.6. Có phải tất cả các vụ giết người đều bị truy tố theo khoản 1 Điều 123?

Không. Chỉ những trường hợp có tình tiết định khung như giết nhiều người, giết người dưới 16 tuổi, có tổ chức, vì động cơ đê hèn… mới bị xử lý theo khoản 1. Nếu không có tình tiết tăng nặng, vụ án sẽ xử lý theo khoản 2 với mức phạt từ 07 đến 15 năm tù.

6.7. Người thuê giết người có bị xử lý giống người thực hiện không?

Có. Cả người thuê giết người và người giết thuê đều bị xử lý theo khoản 1, điểm m Điều 123, với mức phạt cao nhất là tử hình.

6.8. Giết người rồi tự thú có được giảm nhẹ không?

Có. Nếu người phạm tội tự thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, Tòa án có thể xem xét giảm nhẹ hình phạt theo Điều 51 BLHS. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, hình phạt vẫn có thể rất nghiêm khắc.

6.9. Tòa án có thể áp dụng hình phạt quản chế sau khi chấp hành án không?

Có. Theo khoản 4 Điều 123, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung như quản chế, cấm hành nghề, cấm cư trú từ 01 đến 05 năm sau khi chấp hành án chính.

6.10. Giết người vì bị xâm hại có được coi là phòng vệ không?

Tùy tình huống. Nếu hành vi xâm hại đang xảy ra và gây nguy hiểm thực tế, việc giết người để ngăn chặn có thể được coi là phòng vệ chính đáng. Tuy nhiên, nếu việc tấn công xảy ra sau thời điểm bị xâm hại thì có thể bị xem là hành vi trả thù, không còn là phòng vệ nữa.

7. Kết luận

Tội giết người là một trong những loại tội phạm nguy hiểm nhất trong hệ thống pháp luật hình sự, gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng không chỉ đối với cá nhân nạn nhân mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến gia đình, cộng đồng và trật tự xã hội. Việc phân hóa trách nhiệm hình sự trong Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015 cho thấy chính sách xử lý nghiêm khắc nhưng công bằng, phân biệt rõ ràng giữa các mức độ hành vi và bối cảnh phạm tội.

Việc hiểu đúng về cấu thành tội phạm, các khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ là điều quan trọng đối với các luật sư, kiểm sát viên, thẩm phán, cán bộ điều tra, và cả người dân để nhận diện hành vi phạm pháp, đồng thời chủ động phòng ngừa và tự bảo vệ quyền lợi của mình.

Đối với luật sư hành nghề hình sự, việc bào chữa trong các vụ án giết người không chỉ đòi hỏi kiến thức chuyên sâu về pháp lý mà còn cần có kỹ năng phân tích tâm lý, nhân thân và yếu tố hoàn cảnh để đề xuất chính sách hình phạt hợp lý, đúng với mục tiêu cải tạo và phòng ngừa.

.

________________________________________________

CÔNG TY TNHH TÂM TÍN THUẬN

Trụ sở: 133/36/11 Đường Quang Trung, Phường Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh

Văn phòng: 14 Trương Quyền, Phường Xuân Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh

Điện thoại: 0907.598.456

Email: hotro@tamtinthuan.vn

CÁC DỊCH VỤ KHÁC